Vua bida, Vua đầu bếp, Trà lầu Long Phụng,Điệp viên 007...
Tuyển series films Châu Thanh Trì
Tuyển series films Châu Thanh Trì, xem để cười nhé các bạn!
1.Tân Lộc Đỉnh Ký ; Tình Thánh (thánh tình) ; Đường Bá Hổ ; Tuyệt đỉnh KungFu- Châu Thanh Trì
2.Vua bida, Vua đầu bếp, Trà lầu Long Phụng,Điệp viên 007... - Châu Tinh Trì
1.Tân Lộc Đỉnh Ký ; Tình Thánh (thánh tình) ; Đường Bá Hổ ; Tuyệt đỉnh KungFu- Châu Thanh Trì
2.Vua bida, Vua đầu bếp, Trà lầu Long Phụng,Điệp viên 007... - Châu Tinh Trì
Câu chuyện rùa và thỏ thời hiện đại
Đây là một câu chuyện có vẻ quen thuộc với chúng ta nhưng được mở rộng bởi CEO (Chief Executives Officer) của Coca Cola như sau:
Ngày xửa ngày xưa, có một con rùa và một con thỏ cãi nhau xem ai nhanh hơn. Chúng quyết định giải quyết việc tranh luận bằng một cuộc thi chạy đua. Chúng đồng ý lộ trình và bắt đầu cuộc đua.
Thỏ xuất phát nhanh như như bắn và chạy thụt mạng một hồi, và sau khi thấy rằng đã bỏ khá xa bạn rùa, thỏ nghĩ nó nên nghỉ mệt dưới một tán cây bên đường và thư giãn trước khi tiếp tục cuộc đua. Thỏ ngồi dưới bóng cây và nhanh chóng ngủ thiếp đi. Rùa từ từ vượt qua thỏ và sớm kết thúc đường đua, dành chiến thắng. Thỏ giựt mình tỉnh giấc và nhận ra rằng nó đã bị thua.
Bài học của câu chuyện trên là: chậm và ổn định đã chiến thắng cuộc đua.
Nhưng cuộc sống không quá đơn giản như thế, câu chuyện được tiếp tục phát triển thêm:
Thỏ vô cùng thất vọng vì để thua và nó cố suy nghĩ. Nó nhận ra rằng nó đã thua chỉ vì quá tự tin, bất cẩn và thiếu kỷ luật. Nếu nó không xem mọi thứ quá dễ dàng và chắc thắng, thì rùa không thể nào có cửa hạ được nó. Vì thế, nó quyết định thách thức một cuộc đua mới. Rùa đồng ý.
Lần này, thỏ chạy với tất cả sức lực của nó và chạy suốt một mạch về đích. Nó bỏ xa rùa đến mấy dặm đường.
Thế, bài học của câu chuyện này?: nhanh và vững chắc sẽ chiến thắng cái chậm và ổn định.
Nếu có 2 người trong công ty của bạn: một người chậm, nguyên tắc và đáng tin cậy; một người khác nhanh và vẫn đáng tin cậy ở những việc anh ta làm. Người nhanh và đáng tin cậy chắc chắn sẽ được thăng chức nhanh hơn.
Chậm và chắc là điều tốt, nhưng nhanh và tin cậy là điều tốt hơn. Nhưng câu chuyện cũng không dừng lại ớ đây. Rùa đã suy ngẫm kết quả và nhận ra rằng: nó không có cách nào thắng được thỏ trên đường đua vừa rồi. Nó suy nghĩ thêm một tí nữa và rồi thách thỏ một cuộc đua khác, nhưng có một chút thay đổi về đường đua.
Thỏ đồng ý. Họ bắt đầu cuộc đua. Như đã tự hứa với lòng mình là phải luôn nhanh, thỏ bắt đầu chạy và chạy với tốc độ cao nhất cho đến bên bờ sông. Vạch đích đến lại còn đến 2 Km nữa ở bên kia sông!
Thỏ dành ngồi xuống và tự hỏi không biết làm sao đây. Trong lúc đó, rùa đã đến nơi, lội xuống sông và bơi qua bờ bên kia, tiếp tục chạy và kết thúc đường đua.
Ý nghĩa từ câu chuyện này?. Trước tiên, cần phải xác định ưu thế của mình, và sau đó là biết chọn sân chơi phù hợp.
Câu chuyện vẫn chưa dừng lại.
Đến đây, thỏ và rùa đã trở thành đôi bạn thân thiết và họ cùng nhau suy ngẫm. Cả hai nhận ra rằng cuộc đua sau cùng có lẽ sẽ có kết quả tốt hơn. Vì thế, chúng quyết định tổ chức một cuộc đua cuối cùng, nhưng chúng sẽ cùng chạy chung một đội.
Cuộc đua bắt đầu, thỏ cõng rùa chạy đến bên bờ sông, rùa lội xuống sông và cõng thỏ bơi qua bên kia bờ sông. Lên đến bờ, thỏ lại cõng rùa đưa cả hai cùng về đích. Và chúng cùng nhận ra rằng đã về đích sớm hơn rất nhiều so với các lần đua trước.
Bài học của câu chuyện này là gì?. Thật tuyệt vời nếu mỗi người đều thông minh và đều có ưu điểm riêng, nhưng trừ khi các bạn cùng làm việc với nhau trong một đội và cùng chia xẻ, cống hiến ưu thế của từng người, bạn sẽ không bao giờ thực hiện công việc được hoàn hảo bởi vì luôn luôn có những trường hợp bạn không thể làm tốt hơn người khác.
Điều quan trọng của làm việc theo nhóm là phải chọn được người trưởng nhóm trong từng trường hợp cụ thể. Phải chọn được người có ưu thế về lĩnh vực mà họ làm trưởng nhóm.
Còn nhiều bài học nữa từ câu chuyện này. Lưu ý rằng cả thỏ và rùa đều không hề đầu hàng hay nản chí sau thất bại. Thỏ quyết tâm làm việc hăng hơn và cố gắng nhiều hơn sau khi phải thất bại cay đắng. Rùa phải thay đổi chiến lược vì nó đã cố gắng làm việc hết sức. Trong cuộc sống, khi phải chịu đựng, đối mặt với thất bại, có thể đó cũng là thời điểm thích hợp để cố gắng hơn và nỗ lực nhiều hơn nữa, nhưng đôi khi cũng cần phải thay đổi chiến lược và thử tìm kiếm giải pháp khác. Và đôi khi phải làm cả hai.
Thỏ và rùa cũng đã học thêm một bài học để đời khác: thay vì chúng chống đối (hay cạnh tranh) với nhau, chúng bắt đầu tìm cách giải quyết tình huống, và chúng đã cùng nhau làm tốt hơn rất nhiều.
Khi Roberto Goizueta đảm nhận vị trí CEO của Coca Cola vào những năm 1980, ông đã phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với Pepsi. Nhân viên của ông ta đang tập trung vào cạnh tranh với Pepsi và cố gắng tăng thị phần từng 0.1%. Goizueta quyết định không cạnh tranh với Pepsi mà thay vào đó là tìm cách chiếm thị phần. Ông ta hỏi các nhân viên và biết rằng trung bình mỗi ngày, mỗi người Mỹ uống các loại nước là 14 ounces (đơn vị đo lường của Mỹ), trong đó thì Coke chỉ có 2 ounces/ngày/người. Rõ ràng việc cạnh tranh không chỉ là Pepsi mà còn là nước, trà, cà phê, sữa và các loại nước trái cây.
Mọi người sẽ dễ dàng tìm thấy Coke bất kể khi nào họ cần uống. Coke quyết định đầu tư các máy bán coca cola tự động ở khắp các góc đường. Doanh thu tăng nhảy vọt và cho đến nay thì Pepsi vẫn không thể nào theo kịp.
Kết luận: câu chuyện ngụ ngôn thỏ và rùa đã dạy cho chúng ta khá nhiều bài học lý thú. Ý tưởng quan trọng nhất là “nhanh và vững chắc” sẽ luôn đánh bại “chậm và ổn định”; làm việc với những ưu điểm của bạn, đầu tư nhiều tài nguyên và làm việc theo nhóm sẽ luôn chiến thắng bất cứ một cá nhân nào; không bao giờ đầu hàng hay nản chí sau thất bại. Và cuối cùng, phải tìm giải pháp cho mọi tình huống, không chống lại cuộc chiến.
Sưu Tầm Và Chia Sẻ
Con trai nghệ sỹ Văn Hiệp kể lại những ngày chống chọi bệnh của cha
Con trai nghệ sỹ Văn Hiệp kể lại những ngày chống chọi bệnh của cha
Con trai nghệ sỹ Văn Hiệp kể về những ngày chống chọi bệnh tật của cha mình trong nỗi cô đơn và buồn tủi.
"Có bao nhiêu tiếng cười ông mang tặng hết cho đời, chỉ giữ lại những năm tháng dài rộng của đời mình những nỗi cô đơn và buồn tủi" - Con trai nghệ sỹ Văn Hiệp không giấu nổi ánh mắt khắc khoải khi nói về người cha vừa đi xa của mình.
Anh cao lớn, rắn rỏi và mạnh mẽ, còn có chút gì phong trần, bụi bặm, khác hẳn dáng vẻ nhỏ bé, hiền lành và khắc khổ của cha mình. Anh Thắng, con trai nghệ sỹ Văn Hiệp từng có những năm tháng nuôi đam mê dưới ánh đèn sân khấu, nhưng rồi cuộc sống lại đẩy anh rẽ sang một con đường khác, với nhiều nuối tiếc.
Anh cao lớn, rắn rỏi và mạnh mẽ, còn có chút gì phong trần, bụi bặm, khác hẳn dáng vẻ nhỏ bé, hiền lành và khắc khổ của cha mình. Anh Thắng, con trai nghệ sỹ Văn Hiệp từng có những năm tháng nuôi đam mê dưới ánh đèn sân khấu, nhưng rồi cuộc sống lại đẩy anh rẽ sang một con đường khác, với nhiều nuối tiếc.
Anh không cho người viết thấy nỗi buồn trên gương mặt, chỉ có ánh mắt xa xăm và nỗikhắc khoải trong ấy là không giấu nổi, khi kể về cuộc đời trĩu nặng nỗi cô đơn và tủi thân của bố, về những tháng ngày ông đau đớn chống chọi với căn bệnh ung thư phổi, bằng niềm lạc quan vô bờ bến.
Anh kể rằng cha anh mất vì cả cuộc đời gồng gánh quá nặng những nỗi buồn trên đôi vai gầy gò và nhỏ bé của mình. Có bao nhiêu tiếng cười ông mang tặng hết cho đời, chỉ giữ lại những năm tháng dài rộng của đời mình những nỗi cô đơn và buồn tủi. Cho đến tận lúc trút hơi thở cuối cùng, hình như, ông vẫn là người cô độc.
"Tôi chẳng nhớ nhiều những kí ức ngày ấu thơ, khi mẹ đi xuất khẩu lao động sang Đức, để lại bố cảnh gà trống nuôi con vò võ. Mẹ đi rồi không về nữa, chẳng phải vì có một bờ vai khác cho mẹ dựa vào, hay cũng chẳng rõ vì sao nữa, nhưng từ ấy, hai anh em cảm nhận rõ một sự nứt vỡ chẳng bao giờ có thể hàn gắn.
Mẹ không lấy chồng tây, bố cũng chẳng đi bước nữa, mà tình yêu vẫn chẳng đủ đưa hai người về lại với nhau. Hơn 20 năm, 4 người trong gia đình sống với những chất chứa chẳng thể nói thành lời, chỉ thấy, ai cũng lầm lũi và cô đơn, đưa ánh mắt về phía nhau đấy, mà chỉ thấy ánh mắt bên kia thoảng buồn.
Mẹ không lấy chồng tây, bố cũng chẳng đi bước nữa, mà tình yêu vẫn chẳng đủ đưa hai người về lại với nhau. Hơn 20 năm, 4 người trong gia đình sống với những chất chứa chẳng thể nói thành lời, chỉ thấy, ai cũng lầm lũi và cô đơn, đưa ánh mắt về phía nhau đấy, mà chỉ thấy ánh mắt bên kia thoảng buồn.
Tôi từng có những năm tháng tuổi trẻ nuôi đam mê nối nghiệp bố, mắt sáng lên khi thấy ánh đèn sân khấu, khi được nghe tiếng máy quay. Cũng đến trường, đến lớp, ngày đêm miệt mài tập luyện ở nhà hát Tuổi Trẻ cùng những Vân Dung, Quốc Quân… Nhưng rồi, cuộc sống đẩy tôi rẽ sang một con đường khác.
Học được một vài năm, tôi vi phạm nội quy khi yêu một chị học cùng lớp, tưởng rằng bản án đuổi học chỉ là dọa suông, ai ngờ tôi bị đuổi học thật. Tuổi trẻ bồng bột, bốc đồng và tính sĩ diện hão khiến tôi cũng buông xuôi, chẳng nhờ vả bố xin cho ở lại, tự ý bỏ ngang chừng, ra khỏi nhà, ăn chơi và phá phách suốt một thời gian dài.
Sau này, những người quen biết vẫn nói về ánh mắt của bố trong những chiều đi trên chiếc xe đạp cũ, dáng người chênh vênh tìm kiếm tôi khắp các con đường, khắp những nơi mà ông nghĩ sẽ tìm được thằng con trai mình.Ánh mắt ấy buồn và hình như, bất lực lắm.
Ngày đó, tiếc nuối nhiều vì không theo được nghề của bố, nhưng cái tôi ngông cuồng và tự phụ của một thằng con trai lì lợm hai mươi tuổi đầu đã lấn át tất cả. Tôi xách ba lô và vài bộ quần áo sang Đức theo mẹ, quẳng lại cho bố thêm một nỗi cô đơn và đứa em gái nhìn tôi mà cố cắn chặt môi cho khỏi bật ra tiếng khóc.
Gia đình tôi từ ấy, mỗi người lại để dành thêm một chút nứt vỡ trong mình.
Nhưng sau những năm tháng nhọc nhằn bươn chải kiếm sống nơi xứ người, tôi cũng không còn tiếc nuối quá nhiều nữa. Vẫn tự an ủi mình, thôi thì nghề nào cũng là nghề…
Tôi nhớ khi ở Đức, chỉ biết về Việt Nam qua một kênh truyền hình, thế nên những vai diễn hài sau này của bố, tôi không được biết nhiều. Tôi chỉ hay nhớ về hình ảnh của ông, với vai diễn chú lính bé nhỏ ngồi khóc nhớ mẹ trong Bài ca Điện Biên năm nào, và rồi lại chập chờn trong giấc mơ loáng thoáng những ánh đèn sân khấu.
Nhưng rồi, mẹ thì có thể, nhưng tôi thì chẳng sống mãi được nơi xứ người. Ngày về nước, tôi thấy ánh mắt bố ánh lên một chút hy vọng, chứ cũng chẳng hẳn là niềm vui, nhưng có lẽ, chừng ấy cũng là đủ để tôi trở về.
Tôi không trở thành ông to bà lớn, cuộc sống trắc trở khi đi qua hai lần đò với hai người vợ và những đứa con khác mẹ, mỗi lần, lại mang về nhà thêm một ít nỗi buồn nhờ ông cất giữ.
Con cái lớn cả, tôi đi làm phiên dịch, làm xuất nhập khẩu, em gái thì đi lồng tiếng, mà bố vẫn đi đóng phim, đi diễn hài, đến tận lúc gần cuối đời vẫn miệt mài kiếm tiền đưa cho vợ, cho con. Cuộc sống không đến mức giật gấu vá vai, mà sao vẫn chưa đủ đầy và nhiều lo toan.
Học được một vài năm, tôi vi phạm nội quy khi yêu một chị học cùng lớp, tưởng rằng bản án đuổi học chỉ là dọa suông, ai ngờ tôi bị đuổi học thật. Tuổi trẻ bồng bột, bốc đồng và tính sĩ diện hão khiến tôi cũng buông xuôi, chẳng nhờ vả bố xin cho ở lại, tự ý bỏ ngang chừng, ra khỏi nhà, ăn chơi và phá phách suốt một thời gian dài.
Sau này, những người quen biết vẫn nói về ánh mắt của bố trong những chiều đi trên chiếc xe đạp cũ, dáng người chênh vênh tìm kiếm tôi khắp các con đường, khắp những nơi mà ông nghĩ sẽ tìm được thằng con trai mình.Ánh mắt ấy buồn và hình như, bất lực lắm.
Ngày đó, tiếc nuối nhiều vì không theo được nghề của bố, nhưng cái tôi ngông cuồng và tự phụ của một thằng con trai lì lợm hai mươi tuổi đầu đã lấn át tất cả. Tôi xách ba lô và vài bộ quần áo sang Đức theo mẹ, quẳng lại cho bố thêm một nỗi cô đơn và đứa em gái nhìn tôi mà cố cắn chặt môi cho khỏi bật ra tiếng khóc.
Gia đình tôi từ ấy, mỗi người lại để dành thêm một chút nứt vỡ trong mình.
Nhưng sau những năm tháng nhọc nhằn bươn chải kiếm sống nơi xứ người, tôi cũng không còn tiếc nuối quá nhiều nữa. Vẫn tự an ủi mình, thôi thì nghề nào cũng là nghề…
Tôi nhớ khi ở Đức, chỉ biết về Việt Nam qua một kênh truyền hình, thế nên những vai diễn hài sau này của bố, tôi không được biết nhiều. Tôi chỉ hay nhớ về hình ảnh của ông, với vai diễn chú lính bé nhỏ ngồi khóc nhớ mẹ trong Bài ca Điện Biên năm nào, và rồi lại chập chờn trong giấc mơ loáng thoáng những ánh đèn sân khấu.
Nhưng rồi, mẹ thì có thể, nhưng tôi thì chẳng sống mãi được nơi xứ người. Ngày về nước, tôi thấy ánh mắt bố ánh lên một chút hy vọng, chứ cũng chẳng hẳn là niềm vui, nhưng có lẽ, chừng ấy cũng là đủ để tôi trở về.
Tôi không trở thành ông to bà lớn, cuộc sống trắc trở khi đi qua hai lần đò với hai người vợ và những đứa con khác mẹ, mỗi lần, lại mang về nhà thêm một ít nỗi buồn nhờ ông cất giữ.
Con cái lớn cả, tôi đi làm phiên dịch, làm xuất nhập khẩu, em gái thì đi lồng tiếng, mà bố vẫn đi đóng phim, đi diễn hài, đến tận lúc gần cuối đời vẫn miệt mài kiếm tiền đưa cho vợ, cho con. Cuộc sống không đến mức giật gấu vá vai, mà sao vẫn chưa đủ đầy và nhiều lo toan.
Bố tôi biết mình bị bệnh, nhưng gan lì lắm, nhất định không chịu đến bệnh viện, cứ xuê xoa rồi lại kì cạch đi đóng phim. Mãi đến chuyến gánh gồng sau chót vào cuối năm ngoái ấy, bố tôi mới gục ngã hẳn. Ngày 23 Tết đưa bố đến bệnh viện, các bác sĩ nói rằng, đã quá muộn vì căn bệnh bắt đầu di căn.
Rồi bố nằng nặc đòi về nhà, và nhất định không bao giờ bước chân đến bệnh viện thêm một lần nào nữa. Đến tận lúc cận kề cái chết, bố vẫn sợ tốn tiền của các con, sợ chúng tôi mất thời gian trông nom, sợ đếm những ngày tháng cuối đời qua ô cửa sổ ở nơi toàn tiếng lách cách kim tiêm và mùi thuốc men.
Hơn 6 tháng ở nhà, người ngoài nhìn vào vẫn thấy bố cười nói vui vẻ, chỉ có dáng vẻ là gầy đi thấy rõ, và lần nói chuyện nào cũng phải nghỉ giữa chừng vì mệt.
Rồi bố nằng nặc đòi về nhà, và nhất định không bao giờ bước chân đến bệnh viện thêm một lần nào nữa. Đến tận lúc cận kề cái chết, bố vẫn sợ tốn tiền của các con, sợ chúng tôi mất thời gian trông nom, sợ đếm những ngày tháng cuối đời qua ô cửa sổ ở nơi toàn tiếng lách cách kim tiêm và mùi thuốc men.
Hơn 6 tháng ở nhà, người ngoài nhìn vào vẫn thấy bố cười nói vui vẻ, chỉ có dáng vẻ là gầy đi thấy rõ, và lần nói chuyện nào cũng phải nghỉ giữa chừng vì mệt.
Nhưng chỉ con cái trong gia đình mới biết, mỗi khi có một mình, ông hét lên rồi quằn quại trong đau đớn vì không thể chịu đựng nổi. Nhìn ông mà không ai cầm nổi nước mắt, tiếng hét đến lạc cả giọng ấy đến suốt đời này tôi cũng chẳng thể quên.
Ông thường ngồi lầm lũi một góc nhà, đôi mắt cứ nhìn xa xôi như đợi chờ một điều gì đó. Bố cô độc đối diện với nỗi cô đơn trống vắng và buồn tủi chẳng thể san sẻ cùng ai.
Rồi mẹ cũng về nước, chăm sóc ông được một vài ngày khi ông đau ốm, chẳng biết như thế có bù đắp được phần nào, hay chỉ làm ông thêm đau khổ khi sau đấy, bà lại ra đi.
Chỉ biết, mấy chục năm sống cùng ông, là từng ấy quãng thời gian ông câm lặng khi người khác nhắc đến người đàn bà của cuộc đời mình. Hai anh em tôi là những người cảm nhận rõ nhất, không bao giờ được chạm vào vết thương chưa khi nào lành ấy.
Mẹ - là từ ít khi được chúng tôi nói đến nhất trong cuộc sống của ba cha con.
Ngày mai mẹ sẽ về nước, để chịu tang người chồng mà mấy chục năm không sống cùng nhau, nhưng cũng không ly dị. Không biết ở thế giới bên kia, ánh mắt ông có hấp háy thêm một chút hy vọng.
Khi còn khỏe, dự cảm trước cái chết của mình, ông chỉ nói sau này hãy hỏa thiêu bố, rồi quay sang nhìn tôi hỏi:Mày có dám mang tro về nhà không? Tôi nói: bố thích thì con mang về nhà thờ, con chẳng sợ gì cả. Nghe thế, ông không nói gì nữa".
Anh dừng câu chuyện khi nghe tiếng điện thoại mẹ gọi về từ Đức, nói sẽ bay chuyến mấy giờ và dặn người ra đón. Hình như, ánh mắt anh cũng ánh lên tia hy vọng.
Anh đứng lên, đi gọi cô em gái xem việc nhà lo liệu đến đâu, vẫn không quên quay lạinói với người viết:
"Mọi người thường gọi bố là bác trưởng thôn, lúc nào cũng mang theo cái điếu cày, vậy mà từ khi phát hiện ra bị bệnh tới lúc mất, hơn 6 tháng, bố tôi chỉ hút trộm đúng một điếu thôi đấy. Nhưng lúc mất ông gầy lắm, tôi bế lên mà nhẹ bẫng, đoán chừng bố chỉ còn 32 cân".
Ông thường ngồi lầm lũi một góc nhà, đôi mắt cứ nhìn xa xôi như đợi chờ một điều gì đó. Bố cô độc đối diện với nỗi cô đơn trống vắng và buồn tủi chẳng thể san sẻ cùng ai.
Rồi mẹ cũng về nước, chăm sóc ông được một vài ngày khi ông đau ốm, chẳng biết như thế có bù đắp được phần nào, hay chỉ làm ông thêm đau khổ khi sau đấy, bà lại ra đi.
Chỉ biết, mấy chục năm sống cùng ông, là từng ấy quãng thời gian ông câm lặng khi người khác nhắc đến người đàn bà của cuộc đời mình. Hai anh em tôi là những người cảm nhận rõ nhất, không bao giờ được chạm vào vết thương chưa khi nào lành ấy.
Mẹ - là từ ít khi được chúng tôi nói đến nhất trong cuộc sống của ba cha con.
Ngày mai mẹ sẽ về nước, để chịu tang người chồng mà mấy chục năm không sống cùng nhau, nhưng cũng không ly dị. Không biết ở thế giới bên kia, ánh mắt ông có hấp háy thêm một chút hy vọng.
Khi còn khỏe, dự cảm trước cái chết của mình, ông chỉ nói sau này hãy hỏa thiêu bố, rồi quay sang nhìn tôi hỏi:Mày có dám mang tro về nhà không? Tôi nói: bố thích thì con mang về nhà thờ, con chẳng sợ gì cả. Nghe thế, ông không nói gì nữa".
Anh dừng câu chuyện khi nghe tiếng điện thoại mẹ gọi về từ Đức, nói sẽ bay chuyến mấy giờ và dặn người ra đón. Hình như, ánh mắt anh cũng ánh lên tia hy vọng.
Anh đứng lên, đi gọi cô em gái xem việc nhà lo liệu đến đâu, vẫn không quên quay lạinói với người viết:
"Mọi người thường gọi bố là bác trưởng thôn, lúc nào cũng mang theo cái điếu cày, vậy mà từ khi phát hiện ra bị bệnh tới lúc mất, hơn 6 tháng, bố tôi chỉ hút trộm đúng một điếu thôi đấy. Nhưng lúc mất ông gầy lắm, tôi bế lên mà nhẹ bẫng, đoán chừng bố chỉ còn 32 cân".
Theo VTC
Mèo Oggy và những chú gián tinh nghịch - phần 1
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





























